Chỉ đạo điều hành

Quản lý đảng viên ở cơ sở - kết quả và bài học kinh nghiệm

27/11/2018 17:00

  Xác định rõ quản lý đảng viên là nội dung, biện pháp cơ bản, quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, chất lượng đội ngũ CB,ĐV. Những năm qua, việc nâng cao chất lượng quản lý, phát huy vai trò của đội ngũ đảng viên luôn là khâu then chốt, nội dung quan trọng, là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy Đảng trên toàn tỉnh và được BTV Tỉnh ủy cụ thể hóa bằng việc ban hành Chỉ thị số 39-CT/TU, ngày 5/11/2014 về tăng cường kiểm tra, giám sát (KT,GS) công tác quản lý đảng viên ở cơ sở.

Cán bộ cơ quan UBKT Tỉnh ủy cập nhật tình hình tổ chức Đảng và đảng viên, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ kiểm tra, giám sát công tác quản lý đảng viên ở cơ sở.

 Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Trần Đăng Ninh đánh giá: Nhờ tăng cường KT,GS công tác quản lý đảng viên ở cơ sở, đội ngũ đảng viên trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Phần lớn đảng viên vững vàng về chính trị, trung thành với sự nghiệp cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng, phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu của người đảng viên. Trình độ, năng lực của đội ngũ đảng viên được nâng lên một bước, đã và đang tạo nên lớp đảng viên có tư duy năng động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu sự nghiệp đổi mới. Đặc biệt, nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng đã tích cực, chủ động cụ thể hóa tiêu chuẩn đảng viên, đề ra các chủ trương, biện pháp phù hợp về giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện, phân công công tác và quản lý đảng viên, sàng lọc, phân loại đảng viên, kiên quyết đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng, góp phần xây dựng Đảng bộ ngày càng TSVM.

Ngay sau khi BTV Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 39, các cấp ủy, tổ chức Đảng trên toàn tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả. 100% BTV cấp ủy các Đảng bộ trực thuộc đã cụ thể hóa bằng kế hoạch, công văn chỉ đạo, tổ chức thực hiện các cuộc kiểm tra chuyên đề về thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TU. Lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Điều lệ Đảng và các quy định hướng dẫn thi hành đến đội ngũ CB,ĐV. Công tác quản lý đảng viên được thực hiện nghiêm túc theo quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng thông qua công tác phát triển đảng viên đảm bảo về số lượng và chất lượng. Việc thiết lập hồ sơ đảng viên được thực hiện theo đúng quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng. Ban Tổ chức Tỉnh ủy thường xuyên kiểm tra việc nhập, cập nhật, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu đảng viên, kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế và hướng dẫn thực hiện tốt quy định về chế độ nhập, cập nhật, đồng bộ và khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu đảng viên trong toàn Đảng bộ. Công tác quản lý, giám sát đảng viên đi làm ăn xa nơi cư trú, đi công tác nước ngoài và có quan hệ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc.

Từ năm 2015 đến tháng 6/2018, toàn Đảng bộ tỉnh đã kết nạp được 7.622 đảng viên mới, xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách 4 đảng viên đi nước ngoài không báo cáo cấp ủy có thẩm quyền, 4 trường hợp khác đang xem xét xử lý theo quy định. Công tác đánh giá, xếp loại đảng viên được thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, bình quân trong 3 năm đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm 11,9%; hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 76,09%; hoàn thành nhiệm vụ chiếm 11,64%, không hoàn thành nhiệm vụ chiếm 0,37%.

Công tác KT,GS đảng viên được quan tâm, chú trọng. Từ năm 2015 đến hết tháng 6/2018, cấp ủy và UBKT các cấp trong Đảng bộ tỉnh đã tiến hành kiểm tra 2.337 đảng viên, giám sát 4.003 đảng viên. Nội dung KT,GS chủ yếu tập trung vào việc thực hiện những điều đảng viên không được làm gắn với tiêu chuẩn cán bộ; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao… Qua kiểm tra kết luận, có 458 đảng viên vi phạm và đã thi hành kỷ luật 180 đồng chí. Qua giám sát phát hiện 22 trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm, đã kiểm tra đối với 9 trường hợp. Trên cơ sở công tác KT,GS, xem xét các vi phạm của đảng viên, đảng viên xin ra khỏi Đảng… cấp ủy các cấp đã xem xét, xử lý kỷ luật khai trừ và xem xét cho ra khỏi Đảng 342 đảng viên. Trong đó có 80 đảng viên xin ra khỏi Đảng, 204 trường hợp bị đưa ra khỏi Đảng do xóa tên và 58 đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng do kỷ luật khai trừ.

Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Hoàng Văn Đức cho rằng, kết quả đạt được là cơ bản, nhưng hạn chế lớn nhất là một số cấp ủy quản lý đảng viên đi làm ăn xa nơi cư trú chưa chặt chẽ. Số đảng viên không khai báo địa chỉ nơi làm việc, công tác còn nhiều (326/2008 đảng viên, chiếm 16,2%). Số đảng viên đi làm ăn xa, lưu động tự bỏ sinh hoạt Đảng phải xem xét xóa tên đảng viên còn diễn ra ở hầu hết các Đảng bộ huyện, thành phố. Tình trạng đảng viên xin ra khỏi Đảng có chiều hướng ra tăng… Qua đó chúng ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý trong công tác quản lý đảng viên, đó là: Nêu cao tinh thần trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, nhất là người đứng đầu trong việc phổ biến, quán triệt, tuyền truyền có chất lượng, hiệu quả Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn thi hành và pháp luật Nhà nước liên quan đến công tác quản lý đảng viên, công tác KT,GS và thi hành kỷ luật của Đảng đến đội ngũ đảng viên. Công tác KT,GS đảng viên phải được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thường xuyên để giúp cấp ủy kiểm soát, đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình đảng viên trong hoạt động, công tác. Tổ chức thực hiện tốt nghiệp vụ công tác quản lý đảng viên, việc xây dựng cam kết, kế hoạch thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng. Trên cơ sở thực hiện tốt việc đánh giá, xếp loại đảng viên, kịp thời động viên, khen thưởng đảng viên có thành tích xuất sắc để nhân rộng, đồng quan tâm, động viên, giúp đỡ những đảng viên có mặt còn hạn chế, có hoàn cảnh khó khăn để phấn đấu vươn lên. Tăng cường các giải pháp đáp ứng nhu cầu về việc làm, thu nhập của người lao động, góp phần hạn chế đảng viên ở nông thôn phải tìm việc làm xa nơi cư trú.

 

 

 

Theo Đức Phượng(baohoabinh.com.vn)